Powered By Blogger

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG (23.12.2012 – Chúa nhật 4 Mùa Vọng, Năm C)



VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG
Lời Chúa: Lc 1, 39-45
Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được trần đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
Suy nim:
Bài Tin Mừng hôm nay cho ta gặp hai phụ nữ.
Cả hai đang mang thai lần đầu cách diệu kỳ.
Cả hai đều được Thiên Chúa đoái thương tuyển chọn.
Theo lời sứ thần, Ðức Maria đi thăm bà Êlisabét.
Hai bà mẹ gặp nhau tạo điều kiện cho hai thai nhi gặp nhau.
Ðấng Cứu độ nhân loại đi thăm vị Tiền hô của mình.
Cuộc gặp gỡ thật bình thường, nhưng lại rất linh thánh,
được diễn ra trong bầu khí tràn ngập Thánh Thần.
Thánh Thần vẫn luôn tác động trên Ðức Maria,
và làm cho thai nhi Giêsu lớn lên từng ngày.
Thánh Thần đã đầy tràn Gioan từ trong lòng mẹ
khiến ông nhận ra Ðức Kitô và nhảy mừng chào đón.
Thánh Thần bỗng chốc đến với bà Êlisabét
làm bà nhận ra điều mắt thường không thấy được,
đó là chuyện cô em Maria thụ thai Ðấng Cứu Thế.
Maria đem đến cho Êlisabét niềm vui và sự phục vụ,
nhưng chính Mẹ cũng nhận được sự đỡ nâng.
Mẹ xác tín hơn về lời thiên sứ loan báo cho mình,
khi Mẹ thấy quả thật bà chị hiếm muộn đã có thai.
Mẹ ngỡ ngàng khi thấy mầu nhiệm kín ẩn
mà Mẹ âm thầm đón nhận trong lòng tin,
nay lại được Thánh Thần tỏ bày cho bà chị họ.
Niềm hứng khởi và những lời chúc mừng của bà
đã khiến Mẹ cất lời ngợi khen Thiên Chúa (x. Lc 1, 46-55).
Cuộc đi thăm nào cũng làm tôi hiểu hơn về mình,
và ý thức sâu hơn về những ơn tôi đã lãnh nhận.
Maria biết mình có phúc hơn mọi phụ nữ
vì Mẹ được chọn để cưu mang Ðấng Mêsia.
Maria biết mình diễm phúc, vì dám tin vào Lời Chúa.
Cuộc gặp gỡ với bà Êlisabét giúp Maria vững tin hơn
vào tính khách quan của kinh nghiệm mình được gặp Chúa.
Mầu nhiệm nhập thể là mầu nhiệm Ngôi Lời được cưu mang.
Khi chấp nhận làm người, Con Thiên Chúa cần một người mẹ.
Ngài được thụ thai cách lạ lùng trong lòng một trinh nữ,
và Ngài đã lớn lên bình thường trong dạ mẹ.
Dạ mẹ là mái nhà êm ấm đầu tiên,
là Ðền Thánh trước khi Con bước vào thế giới.
Khi được nuôi bằng sự sống của Mẹ Maria,
Con đã thánh hóa tất cả những gì thuộc về Mẹ.
Tất cả những gì nằm trong tiến trình làm người
như thụ thai, mang thai, sinh đẻ, dưỡng nuôi bú mớm...
đều trở nên thánh thiêng, vì được Con Thiên Chúa đảm nhận.
Con Thiên Chúa đã từng là thai nhi trước khi chào đời,
nên mỗi thai nhi đều là hình ảnh Chúa cần trân trọng.
Như Gioan nhảy mừng lúc còn trong dạ mẹ,
mỗi thai nhi đã biết diễn tả buồn vui, đã cần được yêu mến.
Lễ Giáng Sinh đòi ta quan tâm đến các bà mẹ và thai nhi.
Hàng năm có cả triệu vụ phá thai trong nước...
Kính trọng thân xác phụ nữ, tôn trọng sự sống thai nhi:
đó là Tin Mừng Giáng Sinh cho khắp thế giới.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Nữ tỳ hèn mọn (22.12.2012 – Thứ bảy)



Nữ tỳ hèn mọn (22.12.2012 – Thứ bảy)
Lời Chúa:
Bấy giờ bà Maria nói:
“Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.
Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả,
Danh Người thật chí thánh chí tôn !
Ðời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Ápraham
và cho con cháu đến muôn đời.”
Bà Maria ở lại với bà Êlisabét độ ba tháng, rồi trở về nhà.
Suy nim:
Bài ca ngợi khen Đức Chúa bật ra trên môi Maria
sau khi bà Êlisabét cất tiếng ca ngợi Mẹ.
Êlisabét ca ngợi Maria là người được chúc phúc hơn mọi phụ nữ
vì Mẹ đang cưu mang trong dạ Đấng Cứu Tinh.
Bà còn ca ngợi Maria có phúc vì đã dám tin vào lời Chúa phán,
và dám liều để cho lời ấy dẫn dắt đời mình.
Nhờ được tràn đầy Thánh Thần, Êlisabét mới biết được Tin Vui
mà Maria tưởng rằng đó là bí mật chỉ riêng mình biết.
Khi đứng trước bà chị cao niên đang mang thai,
Maria xác tín hơn vào những lời sứ thần nói,
và vào mầu nhiệm đang âm thầm lớn lên nơi cung lòng mình.
Khi bà chị Êlisabét ca ngợi Mẹ, thì Mẹ hân hoan ca ngợi Thiên Chúa.
Maria nhìn nhận Ngài là Đấng Cứu Độ của Mẹ (c. 47).
Nếu Mẹ được đầy ân sủng, được Chúa ở cùng và được đẹp lòng Ngài,
nếu Mẹ được thụ thai Con Đấng Tối Cao nhờ Thánh Thần (Lc 1, 28-35),
thì đó không phải là do công của Mẹ, nhưng là ơn của Chúa.
“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả” (c. 49).
Maria không có một sự khiêm nhường giả tạo về mình.
Khiêm nhường thực sự là nhìn nhận sự thật.
Mẹ nhìn nhận những điều độc nhất vô nhị Chúa làm cho đời mình.
Ngài đã nhìn xuống đời Mẹ, cuộc đời thấp hèn của một tỳ nữ.
Và cái nhìn cúi xuống của Ngài đã nâng Mẹ lên cao,
khiến cho muôn thế hệ phải ngợi khen, tôn kính (c. 48).
Nhưng Maria không phải là người duy nhất được Thiên Chúa thi ân.
Ngài thương xót những ai hèn mọn, đói nghèo, biết kính sợ Chúa.
Ngược lại, Ngài giơ cánh tay biểu dương sức mạnh (cc. 50-53),
để dẹp tan kẻ kiêu căng, hạ bệ người quyền thế, đuổi đi kẻ giàu sang.
Thiên Chúa đầy thương xót, nên cũng mạnh tay để tạo lại sự công bằng,
để đem lại sự no đủ cho người nghèo và sự tự do cho người bị áp bức.
Thiên Chúa ấy cũng trung tín giữ lời hứa với Dân Ítraen (cc. 54-55).
Maria đã ở lại với bà chị họ độ ba tháng mới trở về nhà.
Ba tháng mang thai đầu tiên của một người mẹ trẻ đâu có dễ.
Maria đã ở lại để phục vụ cho bà Êlisabét gần ngày sinh.
Mẹ quên gánh nặng của mình để mang gánh nặng của người khác.
Êlisabét hẳn là vui vì được hầu hạ bởi Thân Mẫu Chúa.
Gioan trong bụng mẹ sung sướng vì được gần Đấng Thiên Sai.
Ít khi ta suy niệm chuyện Đức Maria mang thai hơn chín tháng.
Thai Nhi Giêsu lớn dần lên từng ngày trong dạ mẹ, chờ ngày chào đời.
Tình Mẹ-Con cũng lớn lên, thân thiết, gần gũi.
Mang thai và sinh con là niềm vui, nhưng đòi bao hy sinh nhọc nhằn,
nhất là vào thời xưa, khi vệ sinh và tiện nghi không có.
Để sinh Đức Giêsu cho thế giới hôm nay, vẫn cần có những Maria
chấp nhận cưu mang, chấp nhận vượt cạn,
chấp nhận kiên nhẫn chờ đợi để sinh những Giêsu cứng cáp cho thế giới.

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Thân mẫu Chúa tôi đến với tôi (21.12.2012 – Thứ sáu)

Thân mẫu Chúa tôi đến với tôi
Lời Chúa:
Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được trần đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”
Suy nim:
Trong những ngày cuối cùng của mùa Vọng,
Hội Thánh mời gọi chúng ta suy niệm về cuộc gặp gỡ
giữa hai người mẹ: Chị Maria và bà Êlisabét,
giữa hai thai nhi: Ðức Giêsu và Gioan Tẩy Giả.
Một cuộc gặp gỡ chan chứa niềm vui.
Niềm vui của chị Maria với bước chân vội vã
băng qua những vùng đồi núi trập trùng xứ Giuđê.
Chị không đi một mình trên đường xa,
vì chị tin có một mầm sống đang lớn lên trong chị.
Chị chỉ mong cho mau đến nhà bà Êlisabét
để phục vụ bà trong những ngày gần sinh nở.
Niềm vui bất ngờ của bà chị họ sau lời chào của Maria.
Bà ngây ngất trước hồng ân mà cô em mình đã nhận được.
Bà tràn ngập hạnh phúc vì được Thân Mẫu Chúa đến thăm.
Êlisabét cảm thấy đứa con trong dạ cũng nhảy mừng.
Dường như bà quên cả niềm vui riêng tư,
để chỉ còn nhớ đến niềm vui cứu độ cho cả dân tộc.
Cuộc gặp gỡ diễn ra trong bầu khí của Thánh Thần.
Thánh Thần vẫn tác động trên chị Maria.
Thánh Thần tràn đầy bà Êlisabét.
Thánh Thần đã hoạt động nơi thai nhi Gioan (Lc 1,15).
Chị Maria đem đến niềm vui cho nhà ông Dacaria
vì chị mang lại Ðấng ban Tin Mừng cứu độ.
Chị đem đến sự phục vụ khiêm hạ
vì chị cưu mang Ðấng đến để phục vụ.
Khi được trở nên nữ tỳ của Thiên Chúa,
chị Maria đã sống như nữ tỳ của con người.
Chị có phúc vì chị được chọn làm Mẹ Ðấng Cứu Thế,
chị còn có phúc vì chị đã tin rằng
Chúa sẽ thực hiện những gì Người nói với chị.
Chúng ta chiêm ngắm Ðức Giêsu đang lớn dần trong lòng mẹ.
Ngài tăng trưởng như mọi người.
Những nhịp đập đầu tiên của trái tim nhỏ bé,
những nét riêng tư đầu tiên của khuôn mặt.
Con Thiên Chúa đã mang quả tim và khuôn mặt người phàm.
Từ khi Ngôi Lời được cưu mang trong dạ mẹ,
không ai có quyền khinh rẻ một thai nhi,
vì mỗi thai nhi đều mang khuôn mặt của Con Thiên Chúa;
không ai được coi thường người phụ nữ,
vì Thiên Chúa đã muốn Con mình được một trinh nữ sinh ra.

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Thứ năm sau Chúa Nhật 3 Mùa Vọng(20/12)


Tin Mừng                     Lc 1,26-38

26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói : "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."
34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"
35 Sứ thần đáp : "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. 37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."
38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói : "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Suy niệm
Biến cố Truyền tin là biến cố vô cùng kỳ diệu và phi thường. Mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể là mầu nhiệm về tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Con Thiên Chúa làm người là biến cố vĩ đại nhưng diễn ra trong âm thầm nơi một ngôi làng nhỏ bé Nazareth. Khi thực hiện kế hoạch cứu độ, Thiên Chúa đã chọn Đức Maria, một thôn nữ đầy lòng tin với một tình yêu nồng thắm, tâm trí sáng suốt và khiêm nhường của Mẹ đã đón nhận thông điệp của sứ thần. Tâm hồn Mẹ hoàn toàn mở ra với ơn sủng của Thiên Chúa và mở rộng để đón nhận điều Thiên Chúa tỏ ra với Mẹ.
Tiếng xin vâng của Mẹ là lời đáp trả trước thánh ý Thiên Chúa. Mẹ thưa xin vâng để Con Thiên Chúa làm người, đồng hoá với kiếp sống con người, nhằm giải thoát con ngừơi khỏi tội lỗi và chữa lành mọi nỗi đau cho con người. Hơn nữa, tiếng xin vâng của Mẹ không dừng lại trong ngày Truyền Tin nhưng được trải rộng suốt chiều dài lịch sử của cuộc đời Mẹ. Biết bao biến cố xảy ra, Mẹ vẫn một lòng “suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2, ) để tìm thánh ý Thiên Chúa và thực thi thánh ý của Ngài, mà cao điểm của tiếng xin vâng ấy được tỏ hiện cách đậm nét và mạnh mẽ khi chứng kiến cái chết đớn đau và khổ nhục của Chúa Giêsu. Qua đó, Mẹ thông hiệp với Con Thiên Chúa trong mầu nhiệm khổ nạn, để sự  cộng tác trong công trình cứu độ của Chúa Cha dành cho nhân loại được hoàn trọn một cách tốt đẹp. Có thể nói, trong mỗi tiếng Xin vâng là một lưỡi đòng đâm thấu trái tim Mẹ, và chỉ trong trải nghiệm đau khổ, tiếng xin vâng ấy mới trở nên một sự huyền nhiệm tình yêu của Mẹ dành cho Thiên Chúa và cho nhân loại. Đồng thời, để có được tiếng xin vâng trọn vẹn ấy là nhờ một đời sống hoàn toàn tín thác cho thánh ý của Thiên Chúa.
Trong cuộc đời mỗi chúng ta, dù trong bậc sống nào thì lời “xin vâng” Thiên Chúa muốn nơi chúng ta cũng đuợc kéo dài trong suốt cuộc đời, trong từng khoảnh khắc của cuộc sống dù biến cố lớn, nhỏ chúng ta luôn đáp trả trước lời mời gọi của Thiên Chúa để thi hành sứ mệnh Ngài trao ban trên hành trình theo Chúa bằng lòng yêu mến.
Lạy Thiên Chúa, chúng con xin dâng lời cảm tạ vì Ngài đã yêu thương ban cho chúng con một người mẹ tuyệt vời là Đức Maria. Mẹ còn là mẫu gương cho chúng con cách riêng trên hành trình dâng hiến. Xin Chúa dạy chúng con biết yêu mến vànoi gương Mẹ sống ngoan hiền trong đời Tu trì.
Lạy Mẹ  Maria, suốt cuộc đời của Mẹ, Mẹ luôn sống tin yêu phó thác vào chương trình Cứu Độ mà Thiên Chúa trao cho Mẹ được làm Mẹ của Con Thiên Chúa. Với hai tiếng “Xin Vâng”, Mẹ đã dạy chúng con – những người đang bước theo Đức Giêsu, con của Mẹ, cũng phải tập sống phó thác, xin vâng trong mọi biến cố cuộc đời. Ước mong đời chúng con sẽ luôn mãi là bài ca chúc tụng, ngợi khen tình thương Thiên Chúa, để mọi người cùng nhận biết Danh Ngài.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Chuẩn bị sẵn sàng (19.12.2012 – Thứ tư)



Chuẩn bị sẵn sàng
Lời Chúa: Lc 1, 5-25
Thời vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê, có một vị tư tế thuộc nhóm Avia, tên là Dacaria; vợ ông là bà Elisabét cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Êlisabét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên.
Sau đây là chuyện xảy ra trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa theo phiên của nhóm ông. Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Ðền Thờ của Ðức Chúa, còn toàn dân đông đảo thì cầu nguyện ở bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Dacaria bối rối, và nỗi sợ hãi ập xuống trên ông. Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa. Rượu lạt rượu nồng em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ítraen về với Ðức Chúa là Thiên Chúa của họ. Ðược đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.” Ông Dacaria thưa với sứ thần: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi.” Sứ thần đáp: “Tôi là Gáprien, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây, ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi.” Dân chúng đợi ông Dacaria, và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như thế. Lúc đi ra, ông không nói với họ được, và dân chúng biết là ông đã thấy một thị kiến trong cung thánh. Còn ông, ông chỉ làm hiệu cho họ và vẫn bị câm.
Khi thời gian phục vụ ở Ðền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. Ít lâu sau, bà Êlisabét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. Bà tự nhủ: “Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Suy nim:
Ở nước Do Thái, vợ chồng lấy nhau mà không con nối dõi
là một điều bất hạnh, thậm chí là một hình phạt của Thiên Chúa.
Chúng ta không rõ hai ông bà Dacaria và Êlisabét
đã sống với nhau bao lâu mà không có con.
Chỉ biết bây giờ ông đã cao niên rồi, và bà đã quá tuổi sinh sản (c. 7).
Hai vợ chồng già đã kiên nhẫn cầu xin và chờ đợi trong nhiều năm.
Có vẻ Đức Chúa ngoảnh mặt đi, không nghe lời họ,
dù cả hai đều thuộc dòng tộc tư tế Aharon và rất mực đạo đức (cc. 5-6).
Bây giờ họ có còn hy vọng nữa không?
Chính khi ta thất vọng, thì Chúa đến loan báo Tin Vui (c. 19).
Tư tế Dacaria may mắn trúng thăm, nên ông được vào Nơi Thánh
để lau hương án và dâng hương mới.
Tại nơi thâm nghiêm này, khi ông lo việc tế tự,
ông được sứ thần Chúa báo tin về đứa con sắp chào đời của mình.
Gioan, nghĩa là Đức-Chúa-thi-ân, sẽ là món quà ông được tặng.
Nhưng Gioan sẽ còn là món quà cho nhiều người Ítraen,
vì Gioan có sứ mạng giải hòa dân tộc ông với nhau và với Chúa.
Một con người chưa được mang thai và chào đời,
nhưng về người ấy, Thiên Chúa đã có bao ước mơ và dự tính.
Ngài cho Gioan được đầy Thánh Thần từ trong lòng mẹ (c. 15).
“Làm cho kẻ ngỗ nghịch trở về nẻo chính đường ngay,
và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (c. 17).
Đó là những việc Gioan sẽ làm sau này trong tư cách là Êlia mới.
Dacaria có vẻ không tin vào lời sứ thần,
Có vẻ ông không còn nuôi hy vọng có một đứa con (c. 18).
Ông quên mất chuyện Ápraham đã sinh con trong lúc tuổi già.
Là một tư tế hẳn ông phải biết có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn
đã sinh con làm thủ lãnh đất Ítraen (Tl 13, 2; 1Sm 1-2; St 16, 1).
Việc ông bị câm là một hình phạt, nhưng ông không bị loại trừ.
Thinh lặng chín tháng là thời gian ông chờ đợi để lời hứa nên trọn.
Từ khi bà Êlisabét có thai, bà ẩn mình một thời gian.
Bà chưa muốn cho ai hay biết chuyện này.
Niềm vui bất ngờ đến với bà, người được hưởng hạnh phúc làm mẹ.
“Chúa đã làm cho tôi như thế đó,
khi Ngài đoái thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Mỗi một trẻ thơ chào đời đều có nét của Gioan.
Chẳng người nào thấy ánh mặt trời mà lại nằm ngoài ý Thiên Chúa.
Như Gioan, ngay từ khi tôi chưa hiện hữu trong lòng mẹ,
Thiên Chúa đã nghĩ đến tôi, và biết tên tôi.
Tôi có chỗ rất riêng trong chương trình của Chúa.
Chúa có một sứ mạng rất riêng cho tôi hôm nay.
Thời nào cũng cần Gioan, cần những người kêu gọi hoán cải.
Nhân loại thời nay cần những người dọn đường sáng tạo,
có khả năng mở những con đường mới đi vào lòng thế nhân.

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (18.12.2012 – Thứ ba)



Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta

Lời Chúa: Mt 1, 18-24

Chúa Giêsu Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Maria, Mẹ Người, đã đính hôn với Giuse, nhưng trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi suy tính như vậy, thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mộng và nói: “Hỡi Giuse con vua Ðavít, đừng sợ nhận Maria về nhà làm bạn mình. Vì người con trong lòng bà là bởi Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh một con trai và ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội.” Tất cả sự việc này đã được thực hiện để ứng nghiệm lời Chúa đã phán qua vị tiên tri rằng: “Này đây trinh nữ sẽ mang thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh giấc, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền dạy: ông tiếp nhận bạn mình.
Suy nim:

Thiên Chúa bất ngờ và mãi mãi bất ngờ.

Ngài muốn cứu độ nhân loại bằng cách sai Con Một làm người.

Cách trở thành người của Con Thiên Chúa

vừa bình thường, lại vừa tuyệt đối khác thường.

Bình thường vì Ngài được một phụ nữ sinh ra (x. Gl 4, 4).

Khác thường vì Ngài được sinh ra không do một người cha ruột,

nhưng do quyền năng của Thánh Thần (cc. 18. 20).

Đây là niềm tin ngay từ thuở ban đầu của các Kitô hữu.

Giáo Hội sung sướng đến với máng cỏ

để chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu và Mẹ đồng trinh của Ngài.

Nhưng chúng ta không được quên thánh Giuse.

Giuse đã bối rối, đau khổ khi thấy vị hôn thê của ông mang thai,

dù Maria chưa về chung sống với ông, dù chưa làm đám cưới.

Ông không muốn tố cáo Maria vì tội ngoại tình,

nhưng ông cũng không thể lấy Maria làm vợ,

với thai nhi trong bụng không phải của ông.

Cuối cùng ông chọn giải pháp là chia tay bà một cách kín đáo (c. 19).

Như thế ông hy vọng sẽ bảo vệ được danh dự và an toàn cho Maria.

Nhưng Thiên Chúa Cha cần Giuse,

cần một người cha nhân loại cho Con mình.

Con Thiên Chúa không thể sinh ra trong một gia đình không cha.

Người cha cần biết bao cho sự phát triển quân bình của đứa trẻ.

Maria cũng cần chỗ dựa và không thể một mình nuôi con.

Qua sứ thần, Thiên Chúa mong Giuse đón Maria về làm vợ (c. 20),

nghĩa là làm đám cưới chính thức với Maria.

Việc này đi kèm với việc đặt tên cho người con trai của Maria,

nghĩa là nhận người con ấy là con của mình trước pháp luật (c. 21).

Một lời mời quan trọng chờ nơi Giuse một tiếng Xin Vâng.

Đâu phải Thiên Chúa chỉ cần tiếng Xin Vâng của Maria là đủ.

Giuse có thể từ khước vì thấy mầu nhiệm khó hiểu và khó tin.

Làm sao quyền năng Thánh Thần lại có thể làm cho Maria mang thai?

Giuse có thể sợ vì thấy mình phải chịu trách nhiệm làm chồng làm cha,

dù thực sự mình chẳng hề là thế.

Thiên Chúa đã mời Giuse trong giấc ngủ đêm khuya.

Và ông đã làm y như lời sứ thần truyền khi thức dậy (c. 24).

Tiếng Xin Vâng của Giuse quá quan trọng cho kế hoạch cứu độ,

nhờ đó Con Thiên Chúa đàng hoàng bước vào cuộc đời,

có một mái nhà, có mẹ, có cha, có tên, có tuổi.

Nếu không có những tiếng Xin Vâng của Maria và Giuse,

thì điều gì sẽ xảy ra cho nhân loại đang cần ơn cứu độ?

Thiên Chúa chỉ ở-với-chúng ta nếu có những tấm lòng xin vâng.

Ngài vẫn cần tấm lòng của người mẹ biết cưu mang như Maria,

và tấm lòng của người cha dám chịu trách nhiệm

để Giêsu có chỗ đứng hợp pháp trong thế giới.

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Từ Bà Đức Giêsu được sinh ra (17.12.2012 – Thứ hai)

Từ Bà Đức Giêsu được sinh ra
Lời Chúa:
Ðây là gia phả Ðức Giêsu Kitô, con cháu vua Ða-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:
Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram; A-ram sinh Am-mi-na-đáp; ông Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xam-môn; Xam-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê; Gie-sê sinh Ða-vít.
Vua Ða-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn; Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia; Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút; Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Ðức Giêsu cũng gọi là Ðấng Ki-tô.
Như thế, tính chung lại thì: từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Ða-vít, là mười bốn đời; từ vua Ða-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Ðức Kitô, cũng là mười bốn đời.
Suy nim:
Chúng ta bước vào một giai đoạn mới để mừng lễ Giáng Sinh,
mừng Mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người cách trọn vẹn.
Làm người là có một gia phả.
Thánh Matthêu đã muốn viết một gia phả dài của Đức Giêsu Kitô,
không phải một cách hết sức chính xác và đầy đủ theo nghĩa lịch sử,
nhưng mang nặng ý nghĩa thần học.
Matthêu muốn cho thấy Đức Giêsu là con của cụ tổ Abraham,
và cuộc đời Ngài gắn kết với Ítraen, dân được tuyển chọn.
Ngài cũng là Con của vua Đavít, nên Ngài có cơ sở để là Đấng Kitô.
Làm người là sống trong dòng lịch sử một dân tộc
với tất cả những thăng trầm và biến động của nó.
Matthêu chia lịch sử dân Do Thái làm ba thời kỳ.
Thời kỳ chuẩn bị cho bước đầu của vương triều vua Đavít (cc. 2-6a),
thời kỳ trị vì của các vua thuộc dòng Đavít (cc. 6b-11),
và thời kỳ sau lưu đầy, khi vương quyền Đavít đã mai một (cc. 12-16).
Mỗi thời kỳ mười bốn đời, nghĩa là hai lần bẩy, một con số linh thánh.
Đức Kitô đã đằm mình trong dòng lịch sử này.
Ngài là người cuối của gia phả, nhưng lại là nhân vật trung tâm (c.16-17).
Tất cả lịch sử của dân tộc Ítraen cũng là lịch sử cứu độ.
Dòng lịch sử cứu độ này đã lên đến tuyệt đỉnh nơi Đức Giêsu Kitô.
Nơi Ngài, Thiên Chúa đã đưa lịch sử nhân loại đến chỗ thành tựu.
Trong gia phả Đức Giêsu có tên một số phụ nữ.
Đó là chuyện lạ, vì người Do Thái thường chỉ để tên người cha.
Trừ Đức Maria, bốn phụ nữ kia đều có gốc dân ngoại.
Ta-ma và Ra-kháp gốc Canaan, Rút gốc Mô-áp, vợ Urigia người Hít-tít.
Các phụ nữ này đều có hoàn cảnh khác thường.
Ta-ma giả làm điếm để ngủ với cha chồng là Giu-đa,
hầu sinh con cho nhà chồng (St 38).
Ra-kháp là một cô điếm ở Giêricô, đã giúp Giosuê chiếm Canaan (Gs 2).
Bét-sa-bê, vợ của Urigia, đã ngoại tình và lấy vua Đavít (2Sm 11-12).
Rút đã lấy ông Bô-át là người bà con gần, để nối dõi cho chồng (R 1-4).
Đức Giêsu đã là con cháu của các phụ nữ khác thường này.
Ngài cũng mang trong mình chút dòng máu của dân ngoại.
Cuộc sinh hạ của Đức Kitô cũng khác thường.
Mátthêu diễn tả một cách tinh tế như sau:
Gia-cóp sinh Giuse, chồng của bà Maria,
từ bà Đức Giêsu được sinh ra, cũng gọi là Đức Kitô” (c. 16).
Như thế Con Thiên Chúa đã có một người mẹ để trọn vẹn là người.
Ngài có cha nuôi là thánh Giuse để được thuộc về dòng Đavít.
Làm người cần được sống trong bầu khí gia đình để lớn lên.
Gia phả của Đức Giêsu nhắc tôi về gia phả của chính mình.
Cũng với những bóng tối của lưu đày, với bao bất thường và vấp ngã.
Chỉ mong trong cuộc đời tôi, gia đình tôi, dân tộc tôi, có mặt Giêsu.