"Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng"
1. Hành Trang Của Người Môn Đệ - ĐTGM Ngô Quang Kiệt
Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành
trang. Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều. Chuyến đi càng quan
trọng thì hành trang càng phải chọn lựa, tính toán. Hôm nay Đức Giêsu
sai các môn đệ đi một chuyến quan trọng: tiếp nối sứ mạng của Người đem
Tin Mừng đến khắp các làng mạc xa xôi. Để chuẩn bị cho chuyến đi quan
trọng này, Đức Giêsu đã giúp các môn đệ sắp xếp hành trang. Sau khi đã
loại bỏ những loại hành trang cồng kềnh không cần thiết, có hại cho
nhiệm vụ, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ những hành trang thực sự cần
thiết và hữu ích cho sứ vụ Tông đồ.
Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu.
Các môn đệ chỉ được sai đi sau khi đã có một thời gian sống bên cạnh
Người. Thời gian sống bên Đức Giêsu cần thiết để các môn đệ hiểu biết,
cảm thông và nhất là yêu mến, gắn bó mật thiết với Người. Đây chính là
hành trang quan trọng nhất. Người được sai đi phải gắn bó mật thiết với
Đấng đã sai mình. Sự gắn bó mật thiết là nguồn mạch, bảo đảm tính trung
thực, là chìa khoá thành công của sứ vụ. Đức Giêsu đã nêu gương về điểm
này khi luôn gắn bó mật thiết với Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Sự
gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một
lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm
theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.
Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác.
Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ
cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi
dép, nhưng không được mặc hai áo”, Đức Giêsu muốn các ông sống trong
cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa. Tiền của, tiện
nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự
mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình.
Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt
chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa. Nghèo
khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của
mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó
thác cho Chúa. Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi. Mọi thành công đều của
Chúa, nhờ Chúa. Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn. Chỉ có
công trình của Chúa mới bền vững. Vì thế đơn sơ phó thác là một hành
trang rất cần thiết cho người môn đệ. Không mang theo gì của loài người,
chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang
theo tất cả.
Hành trang của người môn đệ là tình liên đới.
Đức Giêsu không sai các môn đệ đi riêng lẻ, nhưng sai từng hai người
một. Người biết khả năng con người yếu kém, cần có tập thể nâng đỡ mới
hoàn thành sứ mạng. Lời chứng của một cá nhân chưa đủ sức thuyết phục.
Cần có sự đồng tâm nhất trí của một tập thể lời chứng mới thực sự đáng
tin. Hơn nữa, Đức Giêsu không sai các môn đệ đi làm việc với giấy tờ hay
đất đai, nhưng sai các ngài đến với con người. Các ngài phải sống giữa
mọi người, nhờ mọi người giúp đỡ, chia sẻ cuộc sống với họ. Phải liên
đới với con người. Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài
làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng
dễ dàng được đón nhận.
Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.
Đức Giêsu sai các môn đệ đến với những người đau yếu bệnh tật, hoang
đàng tội lỗi, bị quỷ ma hành hạ. Tức là đến với những người kém may mắn ở
đời. Những người nghèo hèn yếu đuối. Những người bị xã hội bỏ quên. Để
đến với những người anh em bé nhỏ, người môn đệ phải có trái tim biết
cảm thương. Các ngài phải mang trái tim của Thiên Chúa luôn chạnh lòng
thương khi nhìn thấy đám đông bơ vơ tất tưởi, túng thiếu, đói khát. Phải
sẵn sàng băng rừng vượt suối đi tìm một con chiên lạc. Phải mở rộng
vòng tay đón nhận đứa con hoang đàng trở về. Phải sẵn sàng tha thứ cho
kẻ tội lỗi thật lòng hối cải ăn năn.
Mỗi người chúng ta đều là môn đệ
của Chúa. Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, Chúa sai
chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người. Tôi thấy anh chị em ở Giáo xứ
Cửa Nam rất tích cực trong việc tông đồ. Nhưng có lẽ anh chị em vẫn băn
khoăn, không biết làm sao để việc tông đồ có kết quả tốt đẹp. Hôm nay,
Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật
thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên
đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại. Một tay nắm
lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong
tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu
mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với
tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Chúa sai bạn đi làm tông đồ cho Chúa, bạn có cảm thấy điều đó không?
2- Mỗi khi đi làm việc tông đồ,
bạn thường chuẩn bị những loại hành trang nào, những hành trang của bạn
quan tâm có giống những hành trang Chúa chuẩn bị cho các môn đệ không?
3- Theo bạn, đâu là phương thế hữu hiệu nhất làm cho những người chung quanh nhận biết Chúa?
4- Đâu là những hành trang cần thiết của người môn đệ của Chúa?
2. Những Lời Căn Dặn Cho Việc Thi Hành Sứ Vụ - Camille Gagnon
Hôm nay, xin anh chị em cho
phép tôi giảng một bài hơi nhẹ nhàng một chút, một bài giảng cho kỳ nghỉ
hè. Tôi muốn nói về gia đình Tremblay tuần rồi đã đi cắm trại lần đầu
tiên ra sao.
Điều khiến tôi nói về gia đình
này, là Tin Mừng bảo rằng “Lần đầu tiên” Chúa Giêsu sai các môn đệ, từng
hai người một, đi rao giảng, và để giúp họ, Ngài dặn dò họ ngay trước
lúc lên đường. Tôi không biết các môn đệ có hiểu rõ và nghe theo những
lời dặn dò này không, nhưng tôi biết rằng gia đình Tremblay đã không
hiểu và không tuân theo, và họ là làm hỏng kinh nghiệm cắm trại của
mình. Và khi nói về kinh nghiệm cắm trại của gia đình Tremblay, tôi sẽ
nói một chút về các bạn và tôi.
“Đừng mang theo hành lý cồng kềnh”.
Lời căn dặn đầu tiên của Chúa Giêsu thật
rõ ràng: “Đừng mang theo hành lý cồng kềnh”. Vì ông Tremblay không biết
điều gì sẽ xảy ra nên ông đã chuẩn bị mọi sự: Hai túi ngủ cho mỗi
người, những cây cọc để cắm lều, những chiếc ấm lớn nhỏ, thùng dụng cụ,
v.v… Đối với ông Tremblay thà chen chúc nhau trong lều còn hơn là thiếu
bất cứ món gì. Cuối cùng ông hầu như đã dọn hết đồ đạc trong nhà đi và
đã phải bận rộn chuẩn bị đồ đạc cả tuần.
Một người quen cắm trại, sẽ khôn ngoan
hơn. Ít nhất họ biết phải tránh mang theo những hành lý vô ích. Họ đã
hiểu ý nghĩa thật của lời Chúa Giêsu căn dặn. Khi nhìn ông Tremblay họ
thấy được yếu điểm của ông. Trước một công việc đòi hỏi phải dẹp đi mọi
nhu cầu không cần thiết ông lại sợ phải bỏ đi những thói quen và những
bảo đảm cho cuộc sống của mình. Thật ra ông Tremblay nghi ngờ rằng việc
cắm trại sẽ không lấp đầy được cả một tuần lễ nghỉ ngơi, và ông nghĩ sẽ
buồn chán khi thiếu tiện nghi. Thế là, bị kẹt trong đống đồ đạc lỉnh
kỉnh của mình, ông không còn thảnh thơi để có được những ngày nghỉ ngơi
thực sự nữa.
“Đừng đi lăng xăng khắp nơi!”.
Lời căn dặn thứ hai là đừng đi lăng xăng
khắp nơi. Nhưng cả ở điểm này nữa, bà Tremblay đã không thành công. Tuy
nhiên, bà đã có ý tốt. Đối với bà, trong tuần cắm trại đó sẽ có dịp gặp
gỡ nhiều người và bà cũng nghe nói rằng khi đi cắm trại người ta rất tử
tế và dễ làm quen. Vậy nên bà không ngồi đấy mà chờ đợi: Bà vội vã đi
bước trước, mỗi ngày bà đi thăm hết mọi người, những chẳng tiếp xúc với
ai lâu. Cuối tuần, bà đã “quen biết” nhiều người, nhưng lại có ít bạn
bè. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nói: “Khi các con được đón tiếp vào nhà nào
thì ở lại đó cho đến lúc ra đi!”. Điều này có vẻ ngộ nghĩnh. Hiển nhiên
là phải ở nơi nào đó trước khi ra đi. Nhưng, suy nghĩ một chút, ta thấy
rằng ta có thể ở nơi nào đó mà không hiện diện, không bao giờ ở với ai
cả. Điều này cũng có nghĩa là chỉ có một cách để tạo nên những mối liên
hệ thực sự với kẻ khác: Đó là dừng lại, đừng bỏ đi ngay khi vừa gặp sự
khó chịu nào đó và đừng sợ làm quen. Chúa Giêsu bảo: Với thái độ ấy làm
sao các con có thể loan báo Thầy. Nói về Thầy thế nào nếu không tạo được
những cuộc gặp gỡ thực sự? Nếu các con chỉ chạy vội hết nơi này đến nơi
khác?
Cuối cùng đừng luyến tiếc gì cả.
Bọn trẻ nhà Tremblay trở về rất thất
vọng. Chúng cứ tưởng sẽ gặp được nhiều bạn trẻ cùng lứa tuổi với chúng;
dụng cụ thể thao cũ rích; huấn luyện viên về bơi lội bị ốm hai ngày, hai
ngày đẹp trời nhất, v.v… Chúng đã mong một cái gì mới mẻ, nhưng bây giờ
chúng chán cắm trại lắm rồi. Từ nay chúng đã biết cắm trại chẳng thích
thú gì cả. Từ lúc về nhà chúng cứ luyến tiếc mãi những ngày đi chơi thất
bại.
Điều Chúa Giêsu căn dặn cuối cùng là:
“Nghe đây! Nếu các con đã thất bại ở nơi nào đó, thì hãy bỏ đi và để lại
tất cả đàng sau mình, nhất là đừng luyến tiếc gì cả. Vì chúng sẽ chỉ
ngăn cản các con bắt đầu lại công việc cách tốt hơn mà thôi”.
Tóm lại sứ vụ của các môn đệ, cuộc đời
của chúng ta, và cuộc cắm trại của gia đình Tremblay lại chẳng cần những
lời căn dặn này sao: “Hãy siêu thoát đối với bản thân; hãy dừng lại để
thiết lập những mối liên hệ thực sự; và hãy quên đi những luyến tiếc để
bắt đầu lại cách tốt hơn”.
3. Dự Định Của Cha Dành Cho Chúng Ta - Charles E. Miller
(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng” – Charles E. Miller)
Trước khi một tòa nhà được xây dựng, kỹ
sư phải hoàn thành bản vẽ. Trước khi một đội bóng đá chuyên nghiệp đến
một sân nào thì người huấn luyện viên đó phải có một chiến thuật. Vậy
trước khi chúng ta làm một việc gì, phải ý thức về cuộc sống của chúng
ta, chúng ta cần phải có một bản thiết kế; cần phải biết chiến thuật của
chúng ta là gì.
Chúa Giêsu đã giới thiệu dự định đó
trong lúc Ngài ở đây trên mặt đất này, Ngài đã gởi mười hai tông đồ đi
trước Ngài trong công cuộc rao giảng, và Ngài tiếp tục rao giảng ngày
hôm nay xuyên qua Giáo Hội, tuy nhiên sự thật là dự định của Thiên Chúa
không phải là một chân lý lầm lạc hoặc là một ý tưởng xa vời. Dự định
của Thiên Chúa là một con người, con người đó là người Con của Ngài,
Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu thì giống như là một bản thiết kế đã được
mang lấy xác. Chúa Giêsu là chương trình dự định cho đới sống của chúng
ta.
Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu
Êphêsô giải thích dự định mà Thiên Chúa Cha đã hài lòng nơi Đức Kitô,
Đấng đã mang hết tất cả mọi sự trên trời dưới đất vào trong quyền thủ
lãnh của Đức Kitô. Đức Kitô là Đầu và chúng ta là chi thể của thân mình
Ngài. Thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo Hội, thân thể phải đươc trở
nên giống như Đầu.
Bởi vì chúng ta là một với Đức Kitô ở
trong Giáo Hội, chúng thông dự vào mối quan hệ của Người với Cha. Vì
Người là người Con đời đời của Cha, trong ba ngôi, như thế chúng ta cũng
trở thành con cái của Thiên Chúa trong Giáo Hội. Thiên Chúa cũng là một
gia đình gồm Cha và Con được hợp nhất trong một Thánh Thần. Giáo Hội là
một gia đình thiêng liêng ở trên mặt đất này. Chúng ta được sinh ra
trong gia đình này qua phép rửa và phép thêm sức và được củng cố như là
con cái của Thiên Chúa qua việc xức dầu của Thánh Thần.
Thánh Phaolô đã viết: “Chúng ta đã được
đóng ấn bằng Thánh Thần. Sự diễn tả này ám chỉ lối thực hành của một vị
vua hoặc của những người khác, họ đã ấn chiếc nhẫn của mình trên sáp
nóng và sau đó đóng dấu ấn vào một bức thư hoặc một văn kiện quan trọng
để làm bằng chứng xác thực. Khi người ta nhận thấy con dấu của vua,
người đó biết rằng tài liệu này là xác thực. Chúa Thánh Thần cũng xuyên
qua bí tích Thêm sức đã in dấu trên linh hồn chúng ta để xác định chúng
ta thật sự là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta thật sự là như thế”
Mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa
trong Giáo Hội kêu gọi chúng ta đáp trả bằng hai cách. Cách đầu tiên là
phụng vụ. Thánh Phaolô đã nhấn mạnh rằng chúng ta phải ngợi khen đặc ân
của Thiên Chúa đã ban cho chúng ta qua người Con Yêu Dấu của Ngài:
“Chúng ta đươc tiền định để ngợi khen vinh quang Ngài”. Chúng ta làm
viên mãn sự đáp trả này chính yếu là trong phụng vụ thánh, lời cầu
nguyện của chúng ta được vươn cùng Giáo Hội. Cái đáp trả thứ hai là “cố
gắng trở nên thánh thiện và không tì tích trước ánh nhìn của Thiên Chúa,
được tràn đầy tình yêu”. Lối đáp trả thứ hai được chỉ định như là cách
chúng ta sẽ sống. Nó có nghĩa là chúng ta phải trở nên giống Đức Kitô,
không chỉ trong hữu thể của mình nhưng còn trong tư tưởng, lời nói, việc
làm của chúng ta nữa.
Bởi vì Đức Kitô là bản vẽ, là kế hoạch
cho đời sống chúng ta, nên phụng vụ không mệt mỏi để giới thiệu Phúc âm
cho chúng ta trong mỗi Thánh Lễ. Trong suốt ba năm và Chúa nhật, chúng
ta được nghe Lời của Chúa trong bốn Phúc âm. Tất cả các sách Phúc âm đều
giúp chúng ta chứng kiến hành động của Chúa Giêsu. Chúng ta thấy bản vẽ
của chúng ta, Con Thiên Chúa đã sống như một con người thế nào. Chúng
ta cũng được giới thiệu lý tưởng để sống đúng. Trong việc lãnh nhận Thân
Mình và Máu của Chúa trong bí tích Thánh Thể, chúng ta được làm cho
mạnh sưc1 để có thể theo được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta:
“ Hãy ngợi khen Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng
đã ban cho chúng ta trong Đức Kitô mọi phước lành thiêng liêng trên
trời”.
4. Loan Báo Tin Mừng
(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam ghi
lại tên tuổi hai vị giáo sĩ truyền giáo nổi tiếng: Đức Cha Lambert de la
Motte và Đức Cha Francois Pallu. Vào thế kỷ 17, Toà Thánh đã đặt hai
giám mục này làm Giám Quản Tông Toà đầu tiên ở Việt Nam: Đức Cha Lambert
de la Motte phụ trách Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam) kiêm
Camquchia, Lào, Thái Lan. Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài
(từ sông Gianh trở ra Bắc) kiêm Trung Quốc.
Đức Cha Francois Pallu là người pháp,
từ bỏ gia đình và quê hương vào ngày 3.1.1662, ngài dùng tàu buồm vượt
qua Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết
các nước Trung Đông, Vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan. Năm 1670, trên
đường đến miền Bắc Việt Nam, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị
một cơn bão đánh giạt vào Philippin. Ngài bị người Tây Ban Nha bắt bỏ tù
rồi đem giải về Tây Ban Nha.Với sự can thiệp của Toà Thánh, Tây Ban Nha
trả tự do cho Đức Cha. Tuy phải trải qua nhiều gian khổ, nhưng tim ngài
vẫn luôn sáng chói một niềm hy vọng. Ngài nói: “Tôi phải đem Tin Mừng
đến tận Trung Quốc”. Vừa được trả tự do, ngài tìm mọi cách đến Bắc Kinh,
và cuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như ngài mơ ước.
một câu nói của ngài đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Tôi tự cho mình hạnh
phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một nhịp cầu tới Bắc Việt và tới
Trung Quốc!”.
Thưa anh chị em, cuộc đời truyền giáo
của Đức Cha Francois Pallu tại đất nước ta cũng như biết bao nhà truyền
giáo khác trên thế giới gắn liền với đời tông đồ và cái chết tử đạo của
mười hai Tông Đồ. Chính Chúa Giêsu tuyển chọn Nhóm Mười Hai để nhóm này ở
lại bên Ngài và để được huấn luyện. Mục tiêu của huấn luyện là để các
ông trở nên những người được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng Nước
Thiên Chúa. Ngay từ khi còn ở trần gian, Chúa Giêsu đã thấy mình đứng
trước một cánh đồng mênh mông, có biết bao nhiêu người cần được nghe Tin
Mừng cứu độ. Ngài thấy mình cần những cộng tác viên nhiệt thành cho
công cuộc truyền bá Tin Mừng. Chúa Giêsu đã trao tất cả những gì mình có
cho Nhóm Mười Hai: quyền rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ. Hoạt động của
các ông là một sự nối dài và mở rộng sứ vụ của mình Chúa Giêsu.
Chia tay Thầy Giêsu, Nhóm Mười Hai lên
đường. Đâu là hành trang của người tông đồ? Chúa Giêsu trả lời: “Không
được mang gì khi đi đường”. Không bánh trái, không bao bì, không tiền
bạc, không mặc hai áo. Như thế, các ông lên đường với tất cả sự nhẹ
nhàng. Càng nhẹ nhàng thì càng dễ thi hành sứ mạng và càng được tự do
hơn. Tuy nhiên sự nhẹ nhàng này thật là một thách đố. Khi người tông đồ
phải lên đường với hai bàn tay trắng, không có lộ phí, không có lương
thực dự trữ, lúc đó họ phải hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân hậu của
Thiên Chúa và lòng tốt của tha nhân. Ra đi tay trắng như thế là chấp
nhận mọi bất trắc có thể xẩy ra dọc đường, nhưng cũng là đặt mình thường
xuyên dưới sự quan phòng của Chúa. Chính Chúa lo mọi sự cho tôi, để tôi
chuyên tâm lo việc của Chúa. Sự an toàn của tôi không dựa vào những
phương tiện trần thế, nhưng vào chính Thiên Chúa.
Chúa Giêsu cũng dạy cho các ông biết
thái độ phải có khi đến với dân chúng. Nếu được đón tiếp thì hãy ở lại,
không tìm một nhà khác tiện nghi hơn. Người tông đồ cần có đời sống
nghèo, đón nhận những gì được trao cho mình với lòng biết ơn. Nếu không
được đón tiếp thì cũng không nên nản lòng. Cử chỉ giũ chân ra đi cho
thấy người tông đồ chẳng hề muốn lấy đi điều gì ở nơi đã từ chối đón
tiếp mình.
Anh chị em thân mến, hôm nay, Chúa Giêsu
Phục Sinh cũng sai chúng ta đến với thế giới. Thế giới không phải là
chuyện xa xôi. Thế giới là nơi chúng ta đang sống, đang làm việc. Thế
giới là gia đình, bạn bè, là trường học, cơ quan, xí nghiệp. Thế giới là
nơi giải trí, nơi du lịch, bãi biển. Thế giới là sách báo, phim ảnh,
video, quảng cáo. Thế giới là mọi ngành khoa học, nghệ thuật, văn
chương. Chúng ta ở trong thế giới và Chúa muốn sai chúng ta đi vào thế
giới của mình trong tư cách là người Kitô hữu. Kitô hữu là người có khả
năng biến đổi thế giới mình đang sống để nó biến thành thế giới của
Thiên Chúa. Các Tông Đồ đã rao giảng, đã mời gọi con người hoán cải để
đón nhận Nước Thiên Chúa gần bên. Chúng ta cả những gì phá huỷ phẩm giá
con người, loại trừ sự sống của Thiên Chúa, đều phải bị loại trừ. Kitô
hữu là người phải hoán cải trước khi mời gọi người khác hoán cải, phải
tỉnh thức trước khi đánh thức người khác, phải thuộc về Chúa trước khi
trừ quỷ.
Thế giới hôm nay cũng là một thế giới bị
thương tích, cần được chữa lành. Bệnh tật của thân xác và bệnh tật của
tinh thần vẫn hoành hành trên thế giới. Con người đau khổ vì mất lòng
tin, lo âu, tuyệt vọng. Con người nô lệ cho chính những sản phẩm của
mình. Tiến bộ khoa học kỹ thuật lại đặt ra những vấn đề mới mà tự sức
con người không giải quyết được. Kitô hữu là người tiếp nối sứ mạng của
Chúa Giêsu, băng bó vết thương của thế giới bằng sự hiện diện đầy yêu
thương.
Chúng ta không rõ nếu hôm nay Chúa Phục
Sinh chỉ thị cho chúng ta, thì Ngài sẽ nói gì trước khi ngài sai chúng
ta ra đi. Chắc Ngài sẽ nói khác với đoạn Tin Mừng hôm nay, những ý chính
vẫn không thay đổi. Ngài dạy chúng ta tin cậy và quyền năng của Thánh
Linh hơn là vào khả năng và phương tiện tự nhiên của mình. Ngài nhắc nhở
chúng ta tín thác và Cha trên trời và Chuyển cầu cầu nguyện, vì chẳng
ai có thể rao giảng Tin Mừng nếu không có tình bạn thân thết với Chúa.
Mỗi Thánh Lễ Chúa Giêsu tập họp chúng ta
lại thành một cộng đoàn môn đệ của Ngài, để rồi sai chúng ta ra đi loan
truyền Tin Mừng Phục Sinh của Ngài cho mọi người ở mọi nơi. Tin Mừng
này chỉ có thể được công bố bằng cuộc sống làm chứng của mỗi người chúng
ta và của Giáo Hội, một cuộc sống trung thành với Chúa Giêsu nghèo khó
và chịu đóng đinh thập giá. Đó là bằng chứng đáng tin của tình thương
cứu độ mọi người.
5. Ngài Gọi Và Sai Đi
(Trích trong ‘Manna’)
Suy Niệm
Đức Giêsu là người làm nên Nhóm Mười Hai.
Sau một thời gian ở với Ngài (x. Mc 3,14), họ đã được Ngài sai đi rao giảng.
Người được sai đi phải là người có đời sống gần gũi thiết thân với Chúa.
Đức Giêsu sai họ lên đường. Ngài trao
cho các ông những quyền năng Ngài có: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh,
quyền trừ quỷ. Đó là hành trang lên đường của các ông. Mọi hành trang
khác chỉ là phụ thuộc: một chiếc áo đang mặc, một cây gậy và đôi dép khi
đi đường.
Đức Giêsu cấm các ông không được mang
theo lương thực, bao bị, tiền bạc... Không lương thực đi đường nên có
thể bị đói. Không bao bị nên không thể để dành. Không tiền bạc nên không
thể mua sắm. Ngài muốn các ông hoàn toàn nương tựa vào lòng tốt của
Thiên Chúa và của con người.
Ra đi mà không có một chút bảo đảm. Các
môn đệ đã đi từ nơi nọ đến nơi kia, lê gót qua các làng mạc và thành
phố. Họ không đóng đô ở một nơi, dù gặp thành công, vì họ nhớ lời của
Thầy: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy
còn rao giảng ở đó nữa" (x. Mc 1,38)
Tính cơ động là đặc tính thiết yếu của người tông đồ. Sẵn sàng đến và cũng sẵn sàng đi.
Các môn đệ loan báo về Nước Thiên Chúa đang đến. Đó là một tin vui, nhưng đòi con người hoán cải.
Hoán cải là điều chẳng ai ưa. Người tông
đồ cần can đảm nói điều phải nói. Không làm nhẹ đi những đòi buộc của
Tin Mừng, không bóp méo Tin Mừng để tìm thành công cá nhân, cũng không
mỵ dân để vuốt ve dư luận. Người tông đồ phải chấp nhận được tiếp đón
một cách nồng hậu hay lạnh nhạt.
Họ chỉ là những người phục vụ cho Tin Mừng.
Chúng ta cần cảm nghiệm niềm vui của các
môn đệ. Những người đánh cá nay trở thành nhà rao giảng. Những người ít
học, bình dân, nay trừ quỷ và chữa bệnh. Họ đem đến cho con người niềm
vui, sự giải phóng toàn vẹn cả hồn lẫn xác.
Hôm nay Đức Giêsu vẫn sai ta đến trong
thế giới. Đi từng hai người hay từng nhóm để nâng đỡ nhau. Chúng ta có
thể mang theo nhiều đồ trang bị hơn xưa, nhưng không vì thế mà bỏ rơi
cậy dựa vào Chúa. Thế giới hôm nay vẫn có nhiều bệnh tật: bệnh tuyệt
vọng chán chường, bệnh hoài nghi khép kín... Ước gì chúng ta chữa lành
những nỗi đau hôm nay.
Gợi Ý Chia Sẻ
Lên đường là ra đi, nhưng cũng là ở
lại môi trường mình đang sống. Bạn thấy làm chứng cho Chúa tại nơi bạn
học hành, làm việc, có khó không? Đâu là những cản trở?
Thế giới hôm nay là thế giới bị nô
lệ dưới nhiều hình thức. Bạn thấy được những hình thức nào? (nô lệ cho
vật chất, tiện nghi, chức vị, xác thịt...)
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Xin sai chúng con lên đường; nhẹ
nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào
những phương tiện trần thế.
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin
Mừng với niềm vui của người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài
như nói về một người bạn thân.
Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao
la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay
nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.
6. Chú Giải Mục Vụ - Jacques Hervieux
SAI NHÓM MƯỜI HAI ĐI RAO GIẢNG (6,7-13)
Mãi đến lúc này Maccô mới kể cho
chúng ta biết thoạt đầu Chúa Giêsu gọi vài môn đệ theo Ngài (1,16-20),
sau đó Chúa Giêsu thiết lập nhóm Mười Hai để họ “ở với Ngài” và chia sẻ
sứ vụ của Ngài (3,13-19). Và giờ đây Ngài mới sai họ đi rao giảng (c.
7). Nhóm Mười Hai sẽ xứng đáng với tước hiệu “tông đồ”,
nghĩa là “được sai đi” thi hành sứ vụ (6,30) mà sau này họ sẽ lãnh nhận.
Trong chương ngắn gọn này, xem ra Maccô đã sử dụng cuốn tiểu cẩm nang
của một thừa sai hoàn hảo. Lối hành văn vấp váp không mạch lạc cho thấy
rõ Maccô đã sử dụng lại một truyền thống có trước ông.
Khởi đầu Chúa Giêsu sai các môn đệ
đi từng nhóm “hai người một” (c. 76). Đây không hiểu có phải là một tập
tục Do Thái không? Theo luật Môsê, cần hai nhân chứng mới xác nhận được
một lời khai (Đnl 19,15). Tuy nhiên con số hai cũng là biểu tượng của
cộng đoàn, nghĩa là các thừa sai không làm việc đơn lẻ mà làm việc theo
từng nhóm. Các Kitô hữu sơ khai đã lặp lại y hệt lối thực hành này của
Chúa Giêsu. Trong công vụ sứ đồ, các thừa sai luôn luôn đồng hành từng
cặp với nhau: Phêrô và Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phalô và Barnabê (Cv 13,2);
Giuđa và Sila (Cv 15,22b)… Chúa Giêsu cũng ban cho các thừa sai này một
phần quyền năng của Ngài, đó là quyền trừ quỷ, như là một trong dấu chỉ
xác thực rằng Vương Quốc Thiên Chúa đã được khánh thành.
Điều đáng nhớ trước hết: các lệnh
Chúa Giêsu truyền cho các thừa sai (c. 8-9) lại là các lệnh truyền dành
riêng cho khách bộ hành. Tuy nhiên, các huấn luyện ấy đặc biệt nhấn mạnh
đến đức tính khó nghèo mà các thừa sai phải chứng tỏ cho mọi người
thấy. Ngay cả những gì thiết yếu (như bánh mì, tiền túi) thì cũng sẽ chỉ
được nhận lãnh như những quà tặng của những người được họ ghé thăm.
Phong thái họ cực kỳ đơn giản giống như những lữ khách lòng không hề
vướng bận (không túi xách đi đường, không áo dài để thay đổi). Ngược với
Matthêu và Luca, để bước đi cho dễ, Maccô cho rằng gậy và dép là cần
thiết. Vào thời đó, hầu như người ta thường đi chân không. Tuy nhiên để
đi nhưng chặng đường dài, xem ra cần phải có gậy và dép. Có lẽ ở đây
Maccô muốn trình bày các trợ tá của Chúa Giêsu như những “khách hành
hương” luôn luôn sẵn sàng lên đường, như những kẻ được mô tả trong nghi
thức lễ vượt qua: “Nịt thắt ngang hông, giầy dép xỏ vào chân, tay cầm
sẵn gậy” (Xh 12,11).
Các lời khuyên liên quan đến việc
tiếp đãi còn đáng ngạc nhiên hơn (c. 10-11). Là thừa sai đi rao truyền
sứ điệp một cách vô vị lợi, nên họ có quyền được những gia đình mà họ
ghé tiếp đón họ một cách vô vị lợi. Tuy nhiên Tin Mừng không mang tính
áp đặt, mà chỉ có thể được đón nhận trong tự do. Nếu thành phố hay làng
mạc nào từ chối không đón nhận thì người ta sẽ đi qua chỗ khác nhưng
đồng thời vẫn tôn trọng sự từ chối đó. Ở đây Maccô mô tả lại nghi thức
xưa kia thường được dùng ở phương Đông: Phủi bụi khỏi chân mình khi rời
bỏ một nơi chốn thù nghịch để tỏ dấu tuyệt giao!
Giống như Chúa Giêsu (c. 12-13),
nhóm Mười Hai lên đường loan báo Nước Thiên Chúa đã đến và mời gọi mọi
người hoán cải (1,15). Giống như Ngài, họ cũng chứng thực lời nói của họ
bằng việc ban phát những dấu chỉ để giúp người ta tin họ. Việc xức dầu
trên bệnh nhân chứng thực đây là một thói quen đã có từ xa xưa. Người ta
từng biết công dụng hữu ích của việc xức dầu lên thân thể. Giáo Hội về
sau đã nhận ra trong tập tục này mầm giống một phép bí tích đó là bí
tích Xức dầu bệnh nhân để chữa lành thể xác và tâm linh của họ (x. Gc
5,14).
Đối với chúng ta ngày nay xem ra
rất cổ kính xét về mặt hình thức của nó bởi vì rõ ràng nó chịu ảnh hưởng
sâu đậm của các phong tục thời xưa. Tuy nhiên tận căn nó vẫn hiện thực.
Tin Mừng phải luôn luôn được cơ động mang đến khắp mọi nơi bằng những
phương tiện nghèo khó. Được trao ban vô vị lợi, Tin Mừng này mời gọi
lương tâm tự do đón nhân. Đây là lời nói đi kèm theo các dấu chứng sự
chiến thắng của Chúa Kitô trên sự Dữ và Thần Chết. Đó chính là sứ điệp
trường cửu của trình thuật rất cổ kính này

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét